Phản đối thấu cảm | Paul Bloom

Khi mọi người hỏi tôi đang làm gì, tôi thường nói mình đang viết một quyển sách về lòng thấu cảm. Người ta có xu hướng mỉm cười gật gù, và rồi khi tôi thêm vào, “Tôi chống lại nó.” họ lại cười gượng.

Ban đầu phản ứng này của họ khiến tôi bất ngờ, nhưng rồi tôi nhận ra rằng đứng ở đầu đối nghịch với thấu cảm giống như tuyên bố rằng bạn ghét mèo con vậy, một phát ngôn kì lạ đến mức chỉ có thể là một câu bông đùa. Và thế là tôi học cách giải thích rõ rằng tôi không phản đối đạo đức, lòng trắc ẩn, lòng tốt, tình yêu, việc trở thành một người hàng xóm tốt, làm việc tử tế, và việc khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Mà thật ra tôi khẳng định điều ngược lại: nếu bạn muốn trở thành người tử tế và làm việc tốt, thấu cảm là một chỉ dẫn tồi.

Từ “thấu cảm” (empathy) được sử dụng nhiều cách khác nhau, nhưng tôi sẽ đưa ra nghĩa phổ biến nhất có liên quan đến một từ các nhà triết học thế kỷ 18 như Adam Smith gọi là “thông cảm” (sympathy). Thấu cảm liên quan đến quá trình trải nghiệm thế giới như những người khác, hoặc ít nhất là bạn nghĩ họ trải nghiệm như vậy. Thấu cảm là đặt mình vào vị trí của người khác để cảm nhận nỗi đau của họ. Một số nhà nghiên cứu cũng dùng thuật ngữ này để bao hàm một quá trình đánh giá suy nghĩ, động cơ, kế hoạch, niềm tin của người khác một cách hờ hững hơn. Đôi khi nó được gọi là “nhận thức”, đối lập với “cảm xúc”, thấu cảm. Tôi sẽ đi theo hướng truyền thống này, nhưng chúng ta nên nhớ rằng “nhận thức” và “cảm xúc” hoàn toàn khác biệt – chúng đều xuất phát từ các quá trình não bộ khác nhau; bạn có thể có phần này nhiều hơn phần kia – và phần lớn bài thảo luận về mối quan hệ mật thiết của lòng thấu cảm với đạo đức tập trung vào khía cạnh cảm xúc.

Thấu cảm về mặt cảm xúc ở một mức độ nào đó mang tính bẩm sinh. Dáng vẻ và tiếng kêu của một người đang đau khiến cho em bé khó chịu và ngay khi chúng có thể đi lại, chúng cố gắng giúp đỡ, vỗ về và an ủi người đang đau khổ. Đây không phải là đặc điểm độc nhất của con người: nhà linh trưởng học Frans de Waal nhận thấy rằng tinh tinh sẽ thường khoác tay lên người nạn nhân của một vụ tấn công và vỗ vai hay vuốt lông nó.

Thấu cảm có thể xảy ra một cách tự nhiên, kể cả khi bạn không tự nguyện. Smith mô tả cách “những con người tinh tế, mẫn cảm” chú ý đến vết thương lỡ loét của một người ăn xin “có thể có cảm giác châm chích hay không dễ chịu ở chính phần đó trên cơ thể của họ.” John Updike viết rằng, “Khi bà tôi bị tức thở trên bàn ăn, cổ họng tôi cũng sẽ nghẹn lại đầy đồng cảm.”

Và thấu cảm có thể được mở rộng bằng việc tưởng tượng.

nhìn thế giới bằng con mắt của những người khác với chúng ta – một đứa trẻ đang đói, một người công nhân ngành thép vừa bị sa thải, một gia đình đã đánh mất cả cuộc sống họ đã tạo dựng khi cơn bão ập vào thị trấn… Khi bạn nghĩ như thế này – khi bạn chọn mở rộng giới hạn quan tâm và đồng cảm với cảnh ngộ của người khác, dù họ có là bạn thân thiết hay người dưng nước lã – bạn sẽ cảm thấy khó không hành động hơn, khó không giúp đỡ hơn.

Obama nói đúng về phần cuối cùng này; có một quan điểm ủng hộ mạnh mẽ cho một giả thuyết mà nhà tâm lý học C. Daniel Batson gọi là “giả thuyết thấu cảm – vị tha”: khi bạn đồng cảm với người khác, bạn thường có khả năng giúp họ hơn. Nói chung, thấu cảm có vai trò xóa bỏ ranh giới giữa người với người; nó là một thế lực chống lại sự ích kỷ và vô cảm.

Rồi, ta dễ dàng nhận thấy rằng, lòng thấu cảm có thể tốt về mặt đạo đức, và nó có nhiều người ủng hộ. Obama luôn miệng nói về lòng thấu cảm; gần đây nhất là sau lần gặp mặt đầu tiên với Pope Francis, ông đã khẳng định rằng “chính vì thiếu đi sự thấu cảm mới khiến cho chúng ta dễ gây chiến tranh. Chính vì thiếu đi sự thấu cảm mà chúng ta mới bỏ mặc những người vô gia cư trên đường.” Trong quyển sách The Empathetic Civilization (Một nền văn minh thấu cảm) (2009), Jeremy Rifkin lập luận rằng cách duy nhất để giống loài chúng ta sống sót sau cuộc chiến tranh, sự suy thoái môi trường, và sụp đổ kinh tế là qua sự đề cao “lòng thấu cảm toàn cầu”. Tháng sáu vừa qua, Bill và Melinda Gates đã kết thúc lễ phát bằng ở đại học Stanford bằng việc yêu cầu sinh viên nuôi dưỡng và mở rộng quyền năng thấu cảm của mình, vì nó cần thiết cho một thế giới tốt đẹp hơn.

Hầu hết mọi người coi lợi ích của lòng thấu cảm quá rõ ràng để cần chứng minh. Đây là một sai lầm.

Hầu hết mọi người coi lợi ích của lòng thấu cảm gần giống như tội ác của nạn phân biệt chủng tộc: nó rõ ràng đến mức không cần chứng minh. Tôi nghĩ đó là một lối nghĩ sai lầm. Tôi đã lập luận ở trên rằng có những đặc tính nhất định của thấu cảm khiến nó trở thành một chỉ dẫn tồi với chính sách xã hội. Lòng thấu cảm có tính thiên vị; chúng ta thường dễ đồng cảm với những người hấp dẫn và những người giống chúng ta hay có chung một sắc tộc hay quốc tịch. Và lòng thấu cảm cũng hạn chế; nó kết nối chúng ta với mọi người xung quanh, dù trong thực tế hay thế giới ảo, nhưng nó không nhạy cảm với sự khác biệt số liệu và dữ liệu thống kê. Như Mẹ Terasa đã nói, “Nếu tôi nhìn thấy một đám đông, tôi sẽ không bao giờ hành động. Nếu tôi nhìn thấy một người mà thôi, thì tôi sẽ hành động.” Các nghiên cứu thí nghiệm phát hiện rằng chúng ta thật sự quan tâm đến một cá thể nhiều hơn một đám đông, miễn là chúng ta có thông tin cá nhân về người ấy.

Khi xem xét các đặc tính này, các quyết định công khai của chúng ta sẽ công bằng hơn và hợp lý hợp tình hơn một khi chúng ta bỏ yếu tố thấu cảm sang một bên. Các chính sách của chúng ta sẽ được cải thiện khi chúng ta nhận thức rõ rằng một trăm cái chết cũng tệ như một cái chết, thậm chí nếu chúng ta biết tên của một người thôi, và khi chúng ta thừa nhận rằng mạng sống của một người sống ở một đất nước xa xôi hẻo lánh cũng đáng giá như mạng sống của người hàng xóm kế bên, kể cả khi cảm xúc chúng ta lại kéo ta theo một hướng khác. Không có sự thấu cảm, chúng ta có thể hiểu tầm quan trọng của việc tiêm vắc-xin cho trẻ em hơn và ứng phó với biến đổi khí hậu tốt hơn. Những hành động này đánh phí lên người thật ngay lập tức vì lợi ích của một tương lai vô định, vì vậy vậy giải quyết chúng có thể yêu cầu ta gạt bỏ các phản ứng thấu cảm ưu ái sự thoải mái và hạnh phúc của người dân ngày nay. Chúng ta có thể xem xét lại việc viện trợ nhân đạo và hệ thống tư pháp hình sự, lựa chọn phân tích một cách hợp lý nghĩa vụ đạo đức và các hậu quả có thể xảy ra, kể cả khi cách thức đó gây phản cảm.

Nhưng thậm chí nếu bạn chấp nhận lập luận này, vẫn còn nhiều điều về cuộc sống hơn là chính sách cộng đồng. Hãy xem xét các mối quan hệ hằng ngày của ta với ba mẹ và con cái, với bạn đời và bạn bè. Và cũng hãy xem xét các mối quan hệ đặc biệt như mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân hay giữa nhà trị liệu và khách hàng. Lòng thấu cảm có thể không vươn đến tầm cỡ của chính sách, nhưng dường như trong các mối quan hệ khăng khít, nó là một điều tốt đơn thuần – càng thấu cảm càng tốt.

Tôi từng tin tưởng điều này, nhưng giờ thì tôi không chắc nữa.


Một trong những người ủng hộ lòng thấu cảm có suy nghĩ thấu đáo nhất là nhà tâm lý học Simon Baron-Cohen. Trong quyển sách viết năm 2011 của ông, The Science of Evil (Khoa học của cái ác), ông đã dùng tâm lý học và khoa học thần kinh để lập luận rằng khái niệm cái ác nên được thay bằng “sự thoái hóa thấu cảm” và rằng thấu cảm ở mức độ cao sẽ tạo nên những con người tử tế và những xã hội tốt đẹp.

Mỗi người đều ở trạng thái khác nhau khi đồng cảm, và Baron-Cohen đặt đường cong thấu cảm chạy từ Mức 0, không có sự thấu cảm nào hết, đến Mức 6, khi một người “liên tục tập trung vào cảm xúc của người khác… trong trạng thái liên tục nhạy cảm cực độ, đến mức mà những người khác không bao giờ thoát khỏi vòng cảm xúc của họ.” Ông phát họa cảm xúc của một người ở Mức 6 như sau:

Hannah là một nhà tâm lý trị liệu, một người có năng khiếu cảm nhận được tâm tình của người khác. Ngay khi bạn vừa bước vào phòng khách của cô, cô ấy đã đọc được vẻ mặt, dáng đi, tư thế của bạn. Câu đầu tiên cô ấy hỏi bạn sẽ là “Bạn khỏe không?” nhưng đây không phải câu hỏi khách sáo có lệ. Giọng điệu của cô ấy – thậm chí trước khi bạn cởi áo khoác ra – cho thấy một lời mời gọi hãy tâm sự, hãy mở lòng, hãy chia sẻ với tôi. Thậm chí khi bạn chỉ trả lời bằng một cụm từ ngắn, giọng điệu của bạn sẽ tiết lộ cho cô ấy biết trạng thái cảm xúc thầm kín của bạn, và cô ấy nhanh chóng đáp rằng “Anh có vẻ hơi buồn. Chuyện gì làm anh phiền lòng thế?” Trước khi bạn nhận ra, bạn đang mở lòng với người lắng nghe tuyệt vời này, người chen lời vào chỉ để an ủi và quan tâm bạn, để mô phỏng cảm xúc của bạn, thỉnh thoảng nói những lời mát lòng để động viên và khiến bạn thấy mình có giá trị. Hannah không làm việc này bởi vì đó là công việc của mình. Cô ấy luôn như vậy với khách hàng, bạn bè, và thậm chí người mà cô ấy chỉ vừa mới gặp. Bạn bè của Hannah cảm thấy họ được cô quan tâm, và tình bạn của họ được tạo dựng quanh sự chia sẻ niềm tin và hỗ trợ lẫn nhau. Cô ấy có một nguồn động lực bất tận để đồng cảm với người khác.

Dễ dàng nhận thấy Baron-Cohen ẩn tượng điều gì ở đây. Nghe có vẻ như Hannah là một nhà trị liệu tốt, và có vẻ như cô ấy cũng sẽ là một người mẹ tốt với các con của mình.

Nhưng hãy cân nhắc việc trở thành một người như cô ấy sẽ như thế nào. Mối quan tâm của Hannah cho người khác không xuất phát từ việc cảm kích hay tôn trọng họ; mối quan tâm của cô ấy không hề phân biệt ai với ai và áp dụng cho cả người lạ lẫn bạn bè. Cô ấy cũng không tán thành nguyên tắc hướng dẫn dựa vào lòng trắc ẩn và tử tế. Mà thay vào đó, Hannah bị ràng buộc với cơn nhạy cảm quá độ (hyperarousal) – động lực của cô ấy là bất tận. Trải nghiệm của cô ấy đối nghịch với sự ích kỉ nhưng nó cũng cực đoan như vậy. Một người ích kỷ có thể sống thờ ơ với niềm vui và nỗi đau của người khác – 99 phần anh ta sống cho mình và 1 phần cho người khác – trong khi trong trường hợp của Hannah, cảm xúc của người khác luôn quanh quẩn trong đầu cô ấy – 99 phần cô sống cho người khác và 1 phần cho cô.

Không phải ngẫu nhiên mà Baron-Cohen chọn phụ nữ để làm ví dụ. Trong một chuỗi các bài báo thực nghiệm và lý thuyết, hai nhà tâm lý học Vicki Helgeson và Heidi Fritz đã khám phá ra tại sao phụ nữ lại có khả năng mắc trầm cảm cao gấp đôi so với đàn ông. Kết quả của họ cho thấy sự khác biệt này là do sự khác biệt giới tính trong “sự cảm thông không được giảm nhẹ” (unmitigated communion), được định nghĩa là “mối quan tâm quá mức cho người khác và đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của bản thân.” Helgeson và Fritz soạn thảo một bảng câu hỏi đơn giản gồm 9 mục, yêu cầu người trả lời chỉ ra họ có đồng ý với những câu khẳng định như, “Để bản thân vui vẻ, tôi cần người khác cũng vui vẻ”, “Tôi không thể từ chối khi ai đó nhờ tôi giúp đỡ”, và “Tôi thường lo lắng cho vấn đề của người khác”. Phụ nữ thường đạt điểm cao hơn đàn ông ở quy mô này; tôi cá là, Hannah chắc chắn cũng vậy.

Có khuynh hướng thấu cảm mạnh mẽ luôn đi kèm một cái giá. Những cá nhân ghi điểm cao trong sự cảm thông không được giảm nhẹ báo cáo rằng họ có các mối quan hệ không đối xứng, khi họ hỗ trợ người kia nhưng lại không nhận được hỗ trợ ngược lại. Họ cũng có xu hướng mắc chứng trầm cảm và lo âu. Nghiên cứu từ một tài liệu khác về “bệnh lý trắc ẩn”, Barbara Oakley ghi chú trong Cold-Blooded Kindness (2011) (Tạm dịch: Lòng tốt hờ hững), “Thật đáng ngạc nhiên khi thấy biết bao căn bệnh và triệu chứng phổ biến mà phụ nữ mắc phải lại dường như có liên quan đến lòng thấu cảm mạnh mẽ hơn và sự tập trung của phụ nữ vào người khác.

Thấu cảm quá độ không phải là động lực duy nhất thúc đẩy sự tử tế.

Những vấn đề phát sinh ở đây có liên quan đến sự thấu cảm về mặt cảm xúc – thấu hiểu nỗi đau của người khác. Đây là nguyên nhân dẫn đến cái mà các nhà tâm lý học gọi là nỗi đau khổ thấu cảm. Chúng ta có thể đối lập nó với lòng trắc ẩn không mang tính thấu cảm – một tình yêu, lòng tử tế và quan tâm xa cách hơn dành cho người khác. Lòng trắc ẩn ấy là một điểm cộng tâm lý. Bỏ qua một điều hiển nhiên rằng quan tâm người khác ở một mức độ nào đó là đúng về mặt đạo đức, sự tử tế và lòng trắc ẩn đều liên quan đến tất cả các kết quả tích cực về thể chất và tâm lý, bao gồm cải thiện tâm trạng ngắn hạn và hạnh phúc lâu dài. Nếu bạn muốn vui vẻ, giúp người khác là một cách cực kì hay.

Sự khác biệt giữa lòng thấu cảm và lòng trắc ẩn nên được làm rõ vì một số người ủng hộ mạnh mẽ lòng thấu cảm lại hoang mang không phân biệt được chúng và nghĩ rằng nguồn lực duy nhất có thể thúc đẩy sự tử tế là nhờ kích thích thấu cảm. Nhưng họ đã lầm tưởng. Hãy tưởng tượng con của một người bạn thân bị đuối nước. Phản ứng của một người có lòng thấu cảm cao sẽ là cảm nhận sự buồn rầu và nỗi đau xé lòng mà bạn của bạn cảm thấy, trải nghiệm càng nhiều càng tốt. Ngược lại, lòng trắc ẩn bao gồm sự quan tâm và yêu thường dành cho người bạn, sự khao khát và động lực giúp đỡ, nhưng nó không gần phải mô phỏng nỗi thống khổ của người bạn ấy.

Hay hãy cân nhắc việc làm từ thiện từ xa. Tôi cho rằng rất dễ nhận thấy rằng một người nào đó khi nghe về hoàn cảnh của những đứa trẻ đang chết đói có thể thật sự sẽ thực hành thấu cảm bằng việc tưởng tượng cảm giác chết đói. Nhưng nỗi đau khổ vì thấu cảm này chắc chắn không hề cần thiết cho việc quyên góp từ thiện. Một người giàu lòng trắc ẩn có thể trân trọng mạng sống của những người khác trong tưởng tượng, và, nhận ra rằng cảnh ngộ bất hạnh ấy là do nạn đói gây ra, do vậy họ được thúc đẩy để hành động.

Tóm lại, động lòng giúp đỡ người khác tốt cho bạn và cả người khác nhưng đau khổ vì thấu cảm lại có tính hủy hoại bản thân về lâu dài.

Có lẽ nó cũng chẳng mang lại lợi lộc gì vì cảm nhận được nỗi đau của người khác rất mệt mỏi và khiến tinh thần kiệt quệ. Vấn đề này được đưa ra trong một tài liệu Phật giáo về luân lý. Hãy xem cuộc đời của Bồ Tát (Bodhisattava), người đã được giác ngộ nhưng nguyện không nhập Niết Bàn, mà thay vào đó ở lại thế gian để cứu độ chúng sinh. Bồ Tát sống như thế nào? Trong quyển sách Consequences of Compassion (2009) (Tạm dịch: Những hệ quả của Lòng trắc ẩn) Charles Goodman đã ghi rằng sự khác biệt trong các kinh điển Phật giáo giữa “từ bi ủy mị,” (sentimental compassion) tương ứng với thấu cảm, và “đại bi tâm” (great compassion), bao gồm tình thương yêu dành cho người khác mà không có sự gắn kết thấu cảm hay đau khổ. Phải tránh không được từ bi ủy mị, bởi nó “làm Bồ Tát kiệt sức.” Goodman biện hộ rằng đại bi xa cách hơn và dè dặt hơn và có thể được duy trì vô tận.                                               

Khác biệt giữa sự thấu cảm và trắc ẩn cũng được chứng minh trong công trình hợp tác nghiên cứu của Tania Singer, một nhà tâm lý học và nhà khoa học thần kinh, cùng với Matthieu Ricard, một nhà sư, chuyên gia thiền định, và cựu khoa học gia. Trong một loạt các nghiên cứu sử dụng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ chức năng sọ não (fMRI), Ricard được yêu cầu thực hiện các loại thiền từ bi khác nhau hướng tới những người đang chịu đau khổ. Trước sự kinh ngạc của các chuyên gia nghiên cứu, những trạng thái thiền định này không hề kích hoạt những bộ phận của não mà thường được kích hoạt khi những người không luyện tập thiền nghĩ về nỗi đau của người khác. Ricard đã mô tả trải nghiệm thiền của mình là “một trạng thái ấm áp tích cực cùng với động lực thúc đẩy xã hội (prosocial motivation) mạnh mẽ.”

Sau đó, họ yêu cầu ông trầm mình vào trạng thái thấu cảm và khi ấy, họ sẽ quét não ông. Các mạch liên kết với sự đau khổ đồng cảm được kích hoạt. Richard nói, “Sự lan tỏa đồng cảm nhanh chóng trở nên quá sức chịu đựng với tôi và tôi cảm thấy tinh thần mình kiệt quệ, y như bị quá tải.”

Người ta cũng thấy sự tương phản tương tự trong các thí nghiệm đang được tiến hành bởi Singer và các đồng nghiệp của bà. Trong các thí nghiệm ấy, đối tượng tham gia hoặc được huấn luyện đồng cảm (tập trung vào khả năng trải nghiệm sự đau khổ của người khác), hoặc được huấn luyện từ bi (đối tượng được huấn luyện để đáp lại sự đau khổ của người khác bằng sự nồng ấm và quan tâm). Theo như kết quả Singer nhận được, giữa các đối tượng tham gia nghiên cứu, người đã trải qua huấn luyện đồng cảm, “cảm xúc tiêu cực tăng lên để đáp lại những người đang đau buồn và cả những người gặp trong cuộc sống hằng ngày… Những phát hiện này nhấn mạnh niềm tin rằng tham gia vào cộng hưởng đồng cảm là một trải nghiệm đem lại tính kháng cự, bởi chính nó, cũng có thể trở thành một nhân tố rủi ro khiến tinh thần ta kiệt quệ.” Huấn luyện lòng từ bi khi không bao gồm việc phát sinh thấu cảm đối với nỗi đau buồn của người khác lại hiệu quả hơn, dẫn tới gia tăng các cảm xúc tích cực và lòng vị tha.

Điều này dẫn ta tới các mục tiêu của lòng thấu cảm. Khi tôi viết bài này, một người họ hàng lớn tuổi của tôi mắc bệnh ung thư đang phải đi tới đi lui giữa bệnh viện và các trung tâm cai nghiện. Tôi quan sát ông ấy tương tác với các bác sĩ và tìm hiểu xem ông nghĩ gì về họ. Ông ấy trân trọng những bác sĩ dành thời gian lắng nghe ông và thấu hiểu cho tình trạng của ông; ông được hưởng lợi từ loại đồng cảm nhận thức này. Nhưng đồng cảm cảm xúc thì phức tạp hơn. Ông nhận được nhiều nhất từ những bác sĩ không đồng cảm với ông, họ bình tĩnh khi ông lo lắng, tự tin khi ông thấy mơ hồ. Và ông ấy đặc biệt đánh giá cao những đức tính tốt không liên quan trực tiếp với sự thấu cảm, những đức tính như nghiệp vụ tốt, trung thực, chuyên nghiệp, và biết tôn trọng.

Leslie Jamison đưa ra luận điểm tương tự trong tuyển tập bài viết mới của cô The Empathy Exams (Tạm dịch: Những bài kiểm tra thấu cảm). Jamison từng là một diễn viên y khoa – cô làm giả các triệu chứng để các sinh viên y chẩn đoán. Nó là một phần của khóa huấn luyện. Cô cũng đánh giá các sinh viên ấy dựa trên các kĩ năng của họ. Mục quan trọng nhất trong danh sách kiểm tra của cô là số 31: “Đồng cảm với tình trạng/ vấn đề của tôi.” Nhưng khi cô thảo luận các trải nghiệm thực tế của mình với bác sĩ, đánh giá về thấu cảm của cô lại không rõ ràng. Cô gặp một bác sĩ lạnh nhạt và không hề đồng cảm với mối lo của cô, việc đó khiến cô cảm thấy tổn thương. Thế nhưng cô lại biết ơn người bác sĩ đảm bảo được khoảng cách với bệnh nhân và tính khách quan của mình: “Tôi không cần bác sĩ trở thành mẹ tôi – dù có trong một ngày – Tôi chỉ cần bác sĩ biết ông đang làm gì,” cô viết. “Sự điềm tĩnh của người bác sĩ không làm tôi cảm thấy mình bị bỏ rơi, nó khiến tôi cảm thấy an toàn… Tôi cần nhìn vào người bác sĩ và thấy được cảm xúc đối lập với nỗi sợ của mình, chứ không phải sự phản chiếu của nó.”

Hay hãy nhìn vào tình bạn và tình yêu. “Những lời mát lòng” của Hannah, “thứ âm thanh của sự an ủi và quan tâm” của cô và sự phản ánh cảm xúc của những người khác mô tả cách nhà trị liệu đối xử với bệnh nhân hay cách một bậc phụ huynh đối xử với đứa bé mới biết đi đầy lo lắng của mình. Nhưng tình bạn thì thường không như thế. Tình bạn bắt nguồn từ sự cân xứng và bình đẳng, cùng chia sẻ các dự án, trêu chọc, cười đùa và tán dóc, tất cả những thứ đó không hiện diện trong mối quan hệ trị liệu giữa bệnh nhân và bác sĩ. Trong khi cách trị liệu của một người bạn có thể giúp ích cho tôi khi tôi cảm thấy cực kỳ lo lắng hoặc chán nản tột cùng thì nhìn chung, tôi không muốn bạn mình xem mình như bệnh nhân, nhẹ nhàng thì thầm an ủi khi họ nhận thấy tôi đang buồn rầu. Lời Hannah nói: “Anh có vẻ hơi buồn. Chuyện gì làm anh phiền lòng thế?” minh chứng cho điều Jamison muốn chỉ ra khi cô nói, “Thấu cảm luôn nằm trên đường ranh giới mỏng manh giữa món quà và xâm phạm riêng tư.”

Bỏ qua các khía cạnh cực đoan, liệu những người biết đồng cảm sâu sắc có là những người bạn và bạn đời tốt hơn không? Theo như tôi biết, chưa ai nghiên cứu vấn đề này. Chắc chắn rằng, chúng ta muốn bạn của mình hiểu và quan tâm tới mình. Thật đáng lo ngại nếu người tôi yêu chẳng buồn nhăn mặt khi tôi đau hay cảm thấy mừng khi tôi vui. Nhưng đây không phải vì tôi muốn họ mô phỏng cảm xúc của mình; mà đúng hơn là bởi vì nếu họ yêu tôi, họ nên lo về bất hạnh của tôi và hài lòng khi tôi yên ổn. Từ một quan điểm hoàn toàn ích kỷ, có lẽ tôi không muốn họ đồng cảm với tôi, nhất là khi tôi buồn. Tôi muốn họ đáp lại cơn hoảng loạn của tôi bằng sự tỉnh táo, và nỗi buồn của tôi bằng lời động viên. Khi Cicero nói về tình bạn – nhưng cũng có thể ông nói về cả các mối quan hệ khăng khít nói chung – nó “cải thiện hạnh phúc và làm dịu nỗi thống khổ, bằng cách nhân đôi niềm vui và chia đôi nỗi buồn.”


Khi chúng ta nghĩ về những người ở đầu cực còn lại mà Baron – Cohen sẽ mô tả rằng đó là thấu cảm ở mức 0, chúng ta lập tức nghĩ về những người thái nhân cách (psychopaths), rối loạn nhân cách chống đối xã hội (sociopaths), hay các loại nhân cách phản xã hội/ loạn nhân cách (antisocial/ psychopathic personality types) (các thuật ngữ này được sử dụng như nhau). Trong nền văn hóa đại chúng, những người thái nhân cách được coi là hiện thân của cái ác. Thuật ngữ mô tả mọi người từ các vị CEO bóc lột tới những chính khách vô cảm, những kẻ sát nhân ăn thịt người như Jeffrey Dahmer và nhân vật hư cấu Hannibal Lecter.

Trở thành một người tốt có liên quan tới lòng trắc ẩn xa cách cùng với sự tự chủ và công bằng.

Có một bài kiểm tra tiêu chuẩn để kiểm tra chứng thái nhân cách do nhà tâm lý học Robert Hare phát triển.  Nó được dùng để đưa ra các quyết định về mặt pháp lý với các tội phạm hình sự, bao gồm việc có nên cho họ ở tù chung thân không. Nó cũng được sử dụng bởi các nhà tâm lý học thực nghiệm để kiểm tra sinh viên, khám phá xem điểm số của họ có liên quan tới, ví dụ như, thái độ của họ với bạo lực tình dục và phong cách lý luận đạo đức. Nếu bạn thích những vấn đề thế này, bạn có thể làm bài kiểm tra online, tự đánh giá mình dựa trên những đặc điểm như “lém lỉnh/ có vẻ ngoài cuốn hút”, “thiếu ăn năn hay tội lỗi”, “quan hệ tình dục bừa bãi”.

Mục quan trọng nhất đối với nhiều người là “vô cảm/ thiếu sự đồng cảm”. Nhiều phương pháp trị liệu bệnh thái nhân cách phổ biến, như trong quyển sách bán chạy nhất năm 2011 của Jon Ronson The Psychopath Test (Tạm dịch: Kiểm tra bệnh thái nhân cách), cho thấy rằng sự thiếu hụt sự đồng cảm là sự thiếu hụt cốt lõi trong thái nhân cách. Chính ở đây, sự thấu cảm nhận thức và cảm xúc tách ra, bởi nhiều người được chuẩn đoán mắc bệnh thái nhân cách lại rất giỏi đọc suy nghĩ của người khác. Nó khiến họ trở thành bậc thầy thao túng, kẻ bịp bợm, và kẻ hay đi dụ dỗ. Nhưng phần cảm xúc lại được cho rằng không tồn tại – họ không thể cảm nhận nỗi đau của người khác – và đây là nguyên nhân những người thái nhân cách là những người khủng khiếp như vậy.

Đây có lẽ là bức tranh toàn cảnh phổ biến, nhưng sự thật thì phức tạp hơn thế. Triết học gia Jesse Prinze chỉ ra rằng những người thái nhân cách chai sạn với tất cả các cảm xúc, không chỉ có thấu cảm. Sự chai sạn cảm xúc chung này – hay còn gọi là “cảm xúc hời hợt” (shallow affect) – là một trong những tiêu chuẩn trong danh sách kiểm tra.  Nó được thể hiện trong quyển sách xuất bản năm 1941 của Harvey Cleckley The Mask of Sanity (Vỏ bọc tỉnh táo). Trong sách, ông đưa ra mô tả lâm sàng đầu tiên của thái nhân cách:

Sự phật lòng, thù hằn, những cảm xúc tựa như tình cảm thoáng qua nhanh chóng và không ổn định, sự oán giận, cáu kỉnh, tâm trạng tự thương hại hời hợt, thái độ tự cao trẻ con, và điệu bộ phẫn nộ ngớ ngẩn và khoe khoang, tất cả đều nằm trong thang cảm xúc của anh ta và thường nghe có vẻ như cuộc đời đang bỡn cợt với anh ta. Nhưng chín chắn, hoàn toàn tức giận, sự phẫn nộ thật sự hay lâu dài, trung thực, nỗi buồn, niềm kiêu hãnh duy trì lâu dài, vui sướng tột cùng, và thất vọng não nề là các phản ứng thường sẽ không tìm thấy trong thang đo này.

Rõ ràng là ta vẫn chưa chắc rằng thiếu hụt thấu cảm là nguyên nhân cốt lõi của bệnh thái nhân cách hay đó chỉ là một khía cạnh của một vấn đề chung. Người ta có thể khám phá ra điều này bằng cách quan sát điểm số dựa trên mức độ vô cảm / thiếu cảm thông và các mục liên quan khác tương đồng với hành vi xấu trong tương lai. Trong một bài đánh giá mở rộng về bài luận văn, nhà tâm lý học Jannifer Skeem và đồng nghiệp của cô chỉ ra rằng những mục này không dự đoán chính xác bạo lực và tội phạm. Lí do tại sao bài kiểm tra thái nhân cách có năng lực dự đoán chỉ là vì nó đánh giá các hành vi xấu trong quá khứ – tội phạm vị thành niên, tính linh hoạt của tội phạm, lối sống ăn bám, vân vân – cũng như các nhân tố như thiếu sự ngăn chặn và khó kiểm soát sự bốc đồng. Nói cách khác, bạn có thể bỏ câu hỏi thấu cảm ra khỏi thang điểm, và vẫn dễ dàng nhận biết những người thái nhân cách.

Còn nhìn chung về hành vi hung hãn thì sao? Người hung dữ có ít đồng cảm hơn không? Kể cả tôi, một người hay nghi ngờ, sẽ tưởng tượng giữa thấu cảm và sự hung hăng thật sự có một mối quan hệ nào đó, bởi cứ cho rằng ai đó có sự đồng cảm sâu sắc với người khác sẽ thấy không thoải mái khi tổn thương ai đó. Tuy nhiên, một bài đánh giá gần đây tóm tắt dữ liệu từ tất cả các nghiên cứu có sẵn về mối quan hệ giữa sự đồng cảm và sự hung hăng lại đưa ra một kết luận khác. Các tác giả của báo cáo “Sự (không) liên quan giữa sự đồng cảm và hung hăng: Kết quả đáng ngạc nhiên từ một phân tích tổng kết” cho thấy hành vi gây hấn gây ra bởi sự đồng cảm chỉ biến thiên 1%. Điều này có nghĩa là nếu bạn muốn dự đoán ai đó hung dữ như thế nào, và bạn có quyền truy cập vào một số lượng lớn thông tin về người đó, bao gồm các cuộc phỏng vấn về tâm thần, bài kiểm tra trên giấy, lý lịch tư pháp và quét não, thước đo sự đồng cảm của người đó sẽ là không hẳn là điều mà bạn muốn để tâm tới.

Cuối cùng, một bài kiểm tra mang tính quyết định cho giả thuyết “mức thấu cảm thấp thì là người xấu” sẽ nghiên cứu một nhóm người thiếu sự cảm thông cũng như các đặc điểm khác liên quan tới chứng thái nhân cách. Những cá nhân như thế có tồn tại. Baron-Cohen chỉ ra rằng người với hội chứng Asperger (Hội chứng rối loạn tự kỷ chức năng cao: hội chứng bệnh rối loạn phát triển) và tự kỷ thường có mức thấu cảm nhận thức thấp – họ gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu người khác nghĩ gì – và cũng có mức thấu cảm cảm xúc thấp. (Đối với những người mắc chứng thái nhân cách, có một số tranh cãi về việc họ không thể đồng cảm hay lựa chọn không đồng cảm). Mặc dù thiếu hụt sự thấu cảm, những người như thế không thể hiện thiên hướng bóc lột hay bạo lực. Thật vậy, họ thường có các quy tắc đạo đức mạnh mẽ và thường là nạn nhân của các hành vi độc ác hơn là kẻ phạm tội.


Có phải tôi đang nói rằng sự đồng cảm không liên quan hoặc hủy hoại dần cách chúng ta đối xử với những người xung quanh chúng ta không? Kết luận như thế quá cực đoan. Có rất nhiều nghiên cứu xem xét sự khác biệt cá nhân giữa các mức độ đồng cảm và tương chiếu các mức độ này với hành vi thực tế, chẳng hạn như sẵn sàng giúp đỡ người đang cần. Nhiều nghiên cứu được thực hiện khá hời hợt. Họ thường đo lường sự thấu cảm thông qua việc người tham gia tự báo cáo, vì vậy bạn không biết liệu bạn đang đánh giá sự đồng cảm thực sự so với mức độ mà mọi người tự nhìn nhận, hoặc muốn được nhìn nhận là người biết đồng cảm. Hơn nữa, những người hay giúp đỡ người khác có thể cho rằng họ là người biết đồng cảm, bởi người ta thường đánh giá bản thân bằng việc kết luận dựa vào hành vi của mình.

Tuy nhiên, có một số bằng chứng cho thấy biết đồng cảm sâu sắc ảnh hưởng tới khả năng người ta ra tay giúp đỡ trong một số trường hợp nhất định. Mối liên hệ này thường mong manh, và không phải tất cả các nghiên cứu đều phát hiện ra điều đó. Tuy vậy, các nghiên cứu sẵn có cho thấy biết thấu cảm sẽ gia tăng khả năng các hành vi vị tha xảy ra, sẽ thật sai lầm khi ta gạt bỏ vai trò của thấu cảm trong đời sống đạo đức của mình.

Nhưng chúng ta biết đồng cảm ở mức độ cao không khiến người ta trở thành người tốt và đồng cảm ở mức độ thấp không khiến người ta thành người xấu. Người tốt thường liên quan tới những cảm xúc trắc ẩn và lòng tử tế xa cách, cùng với sự sáng suốt, tự chủ, và công bằng. Người xấu lại liên quan tới sự thiếu quan tâm đến người khác và không có khả năng kiểm soát ham muốn của mình.

Vậy chúng ta muốn bản thân mình, con cái, bạn bè, và cả xã hội đồng cảm bao nhiêu là đủ? Nếu bạn muốn trả lời câu hỏi đó, sẽ dễ hơn nếu bạn suy nghĩ thêm về một phản ứng cảm xúc khá khác biệt – tức giận.

Thấu cảm và giận dữ khá giống nhau. Cả hai đều xuất hiện từ khi ta còn nhỏ và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Cả hai đều thể hiện ở các loài linh trưởng khác như tinh tinh. Cả hai đều mang tính xã hội. Không giống các cảm xúc khác như sợ hãi hay kinh tởm thường gây ra bởi các trải nghiệm và các sinh vật vô tri vô giác, thấu cảm và giận dữ chủ yếu nhắm vào người khác. Và cả hai đều có tính đạo đức. Sự gắn kết đi cùng với thấu cảm có thể là động lực cho những hành động tốt với người khác; tức giận thường là phản ứng với sự thiếu công bằng, độc ác, và các hành vi trái đạo đức khác.

Các kinh điển Phật giáo thậm chí còn thể hiện thái độ nghi ngờ về giận dữ hơn là về thấu cảm. Họ coi nó là nhân tố tự hủy hoại bản thân và thế giới nói chung. Đây là mối lo có căn cứ. Nhưng nếu tôi có thể xác định đời sống cảm xúc của con mình, tôi sẽ không bỏ qua khả năng nảy sinh những cơn giận giữ. Sức mạnh của cơn giận có thể bảo vệ chúng ta khỏi sự bóc lột và phá hoại. Người không bao giờ biết giận là gì sẽ là một nạn nhân hoàn hảo. Cơn giận còn có thể là cú hích một hành vi đạo đức nói chung; nhiều anh hùng đạo đức vĩ đại – chẳng hạn như Martin Luther King, Jr. – là những người cho phép bản thân tức giận trong các tình huống mà người khác thờ ơ.

Nhưng tôi sẽ lo lắng về các khía cạnh không hợp lý, độc đoán, và tự hoại của nỗi tức giận, nên tôi sẽ không muốn con mình sở hữu nhiều đặc điểm như thế. Và tôi sẽ đảm bảo thêm vào đó thật nhiều sự sáng suốt, quan tâm người khác, và tự chủ. Tôi sẽ muốn đảm bảo rằng cơn giận có thể được điều chỉnh, uốn nắn và định hướng khi được cân nhắc hợp lý. Thường thì nó sẽ là hành động bộc phát, nhưng nó không quan trọng bằng lý lẽ và lòng trắc ẩn. Nếu tất cả chúng ta được định hướng theo cách đó, nếu ta có thể trút toàn bộ cơn giận của mình vào đúng chỗ, thế giới của ta sẽ là một nơi tốt đẹp và tươi sáng hơn.

Đó cũng là cách chúng ta nên nghĩ về sự thấu cảm.


Nguồn: http://bostonreview.net/forum/paul-bloom-against-empathy

Advertisements

One thought on “Phản đối thấu cảm | Paul Bloom

  1. Ồ tui rất thích bài này. Đã có lúc tui thấy mình không cảm nhận được nỗi đau của mẹ trong khi mẹ có vẻ cảm thấy rất rõ. Tui suy nghĩ nhiều về việc đó và cuối cùng kết án rằng bản thân mình một phần nào đó vô cảm mất rồi, theo chiều hướng tiêu cực tất nhiên. Hmm tự nhiên nhớ câu nói của một thầy rằng muốn làm người tốt thì phải sáng suốt mới làm được.

    Like

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.