Danh ngôn của Agatha Christie

National Portrait Gallery
© National Portrait Gallery 

Agatha Christie chắc chắn xứng với danh hiệu “Nữ hoàng Trinh thám” mà mọi người đặt cho bà, vì sao không chứ? Bà không chỉ lôi kéo được đọc giả của thời mình mà kể cả sau khi mất đi, bà vẫn thành công khiến đọc giả những thế hệ sau rùng mình ớn lạnh khi đọc những tác phẩm của mình. Tác phẩm của bà đã được dịch sang hơn 56 thứ tiếng, và con số ấy vẫn không ngừng tăng lên. Bà Christie đã từng viết dòng tiểu thuyết lãng mạn với bút danh Mary Westmacott, với những vở kịch hiện vẫn được hàng triệu người yêu thích (Như vở kịch “The Mousetrap” (Cái bẫy chuột) đã có 23,000 buổi trình diễn kể từ khi ra mắt lần đầu năm 1952). Bà cũng đang giữ kỉ lục là nhà văn có tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại, với số lượng sách bán ra có thể được xếp chung với Kinh Thánh. Nhiều thế hệ đã biết đến người phụ nữ bí ẩn đằng sau trang sách ấy, nhưng nếu không như thế thì bà là một người như thế nào? Bộ não tinh tế ấy xoay chuyển như thế nào khi nhìn cuộc đời? Những đọc giả của Christie thân mến, hãy cùng tìm hiểu qua những câu danh ngôn sau đây.

Tôi tiếp tục giải bài tập số học với bố, tự hào hoàn tất từ phân số đến phân số thập phân. Cuối cùng tôi cũng có thể giải tới loại toán rất nhiều con bò ăn rất nhiều cỏ, và bể nước được đổ đầy trong rất nhiều giờ mà tôi cảm thấy vô cùng thú vị. – Người ta nói rằng khả năng lĩnh hội toán học của bạn thường phản ánh kỹ năng vận dụng ngữ pháp. Bạn đã biết kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của bà ấy tài tình như thế nào. Giờ thì bạn hiểu nhờ đâu rồi đấy.

(I continued to do arithmetic with my father, passing proudly through fractions to decimals. I eventually arrived at the point where so many cows ate so much grass, and tanks filled with water in so many hours I found it quite enthralling.)

Tác giả có quan điểm về thất bại và thành công khá lạ lùng hay đúng hơn là hoàn toàn đối lập với mọi người khi nhắc đến mối quan hệ của chúng với hạnh phúc và sầu muộn.

Những người vui vẻ đều thất bại bởi họ bằng lòng với bản thân mình quá mà có quan tâm đến điều gì nữa đâu.

(The happy people are failures because they are on such good terms with themselves they don’t give a damn.)

Ngược lại…

Hầu hết thành công đều không vui vẻ. Đó là lí do chúng được gọi là thành công, bởi chúng phải khiến người ta an tâm về bản thân họ bằng cách đạt được điều gì đó mà người đời sẽ chú ý.

(Most successes are unhappy. That’s why they are successes – they have to reassure themselves about themselves by achieving something that the world will notice.)

Và những quan điểm đối lập với quan điểm số đông không chỉ dừng ở đó. Hãy đọc những câu trích dẫn dưới đây để biết vì sao tôi nói như thế!

Tôi không nghĩ rằng trong cái khó mới ló cái khôn – mà cái khôn đó, theo ý tôi, xuất phát trực tiếp từ sự trì trệ, có lẽ cũng từ sự lười biếng nữa. Để người ta tự cứu bản thân mình khỏi rắc rối. – Một tự truyện (1977).

(I don’t think necessity is the mother of invention – invention, in my opinion, arises directly from idleness, possibly also from laziness. To save oneself trouble. ―An Autobiography (1977).)

Chúng ta nợ hầu hết các phát minh vĩ đại nhất và các thành tựu vĩ đại nhất của mình một lời cảm ơn tới sự chây lười – dù bị thúc ép hay tự nguyện.

(We owe most of our great inventions and most of the achievements of genius to idleness – either enforced or voluntary.)

Những phát minh đó hoàn toàn không quan trọng. Cho nên chúng mới thú vị đến thế!

(It is completely unimportant. That is why it is so interesting!)

Một giọng nói khó nghe sẽ làm tôi khó chịu nhưng một khuôn mặt khó nhìn thì không.

(An ugly voice repels me where an ugly face would not.)

Đừng làm những gì người khác có thể làm cho bạn.

(Never do anything yourself that others can do for you.)

Bộ não con người thích được người khác mớm cho suy nghĩ, nhưng thiếu đi sự nuôi dưỡng ấy, nó sẽ buộc phải bắt đầu nghĩ cho chính mình – và loại suy nghĩ ấy, hãy nhớ, chính là suy nghĩ độc nhất và có thể đem lại những kết quả giá trị.

(The human mind prefers to be spoon-fed with the thoughts of others, but deprived of such nourishment it will, reluctantly, begin to think for itself – and such thinking, remember, is original thinking and may have valuable results.)

Lời khuyên tốt bao giờ cũng bị bỏ ngoài tai, nhưng chẳng có lí do gì mà không khuyên cả.

(Good advice is always certain to be ignored, but that’s no reason not to give it.)

Bà cũng nói rất nhiều về sự giả vờ của con người.

Chúng ta vẫn là mình khi 3, 6, 10 hay 20 tuổi đó thôi. Có lẽ, đáng chú ý hơn cả là khi ta 6 hay 7 tuổi, bởi khi ấy, chúng ta chẳng biết giả vờ nhiều.

(We are the same people as we were at three, six, ten or twenty years old. More noticeably so, perhaps, at six or seven, because we were not pretending so much then.)

Rất ít chúng ta thể hiện như bản chất của mình.

(Very few of us are what we seem.)

Và về chiến tranh …

Người ta cảm thấy khủng khiếp bởi chiến tranh chẳng dàn xếp được điều gì; bởi thắng trận cũng thảm khốc như thua trận vậy. – Một tự truyện (1977)

(One is left with the horrible feeling now that war settles nothing; that to win a war is as disastrous as to lose one. ―An Autobiography (1977))

Sau cùng, đó chính là những gì chiến tranh gây ra cho bạn. Chiến tranh không phải những thứ đe dọa tính mạng – những quả mìn dưới đáy biển, những quả bom rải trên không, tiếng đạn xé gió từ cây súng trường khi bạn lái xe trên một con đường bỏ hoang. Không, đó là mối đe dọa tinh thần khi học được rằng cuộc sống đã dễ dàng hơn biết bao nhiêu khi bạn ngừng suy nghĩ.

(That was what, ultimately, war did to you. It was not the physical dangers – the mines at sea, the bombs from the air, the crisp ping of a rifle bullet as you drove over a desert track. No, it was the spiritual danger of learning how much easier life was if you ceased to think.)

Hiển nhiên, Agatha Christie cũng thể hiện những quan điểm về bản chất và giá trị con người.

Khi liên quan đến vấn đề tiền bạc, tốt nhất là đừng tin ai.

(Where large sums of money are concerned, it is advisable to trust nobody.)

Người ta không nhận ra những khoảnh khắc quan trọng của đời mình cho đến khi quá muộn.

(One doesn’t recognize the really important moments in one’s life until it’s too late.)

Everything that has existed, lingers in the Eternity.

(Vạn vật từng hiện hữu, đều dừng chân chốn Vĩnh Hằng.)

Nếu ai đó quá cứng nhắc với nguyên tắc của mình, anh ta khó nhìn thấy ai khác.

(If one sticks too rigidly to one’s principles, one would hardly see anybody.)

Quan điểm phổ biến rằng trẻ con hay quên là một quan điểm không chính xác. Nhiều người sống trên đời cứ mãi bám víu vào một quan điểm mà họ ấn tượng vào những năm tháng khờ dại.

(The popular idea that a child forgets easily is not an accurate one. Many people go right through life in the grip of an idea which has been impressed on them in very tender years.)

Sự thật, dẫu có đắng cay, vẫn có thể được chấp nhận, và hình thành một cách sống.

(Truth, however bitter, can be accepted, and woven into a design for living.)

Ngạc nhiên làm sao khi thế giới này có những thứ không diễn ra theo cách ta muốn.

(It’s astonishing in this world how things don’t turn out at all the way you expect them to.)

Trở về năm 1926, khi vụ ngoại tình của chồng bà, Archibald và vụ ly hôn của hai người bị đưa ra ngoài ánh sáng, Christie đã lựa chọn biến mất không dấu vết trong 11 ngày dài. Sự việc này đã gây chấn động dư luận. Khi người ta theo dấu bà đến Khách sạn Swan Hydropathic ở Harrogate, bà dường như không còn nhớ điều gì. Bằng cách nào đó, tôi không thể không cảm thấy rằng câu trích dẫn tiếp theo của bà sẽ giải thích lí do vì sao bà chọn ra đi.

Loài chó rất thông minh. Chúng lủi vào trong một góc tối, liếm láp vết thương và không về lại thế giới của mình cho tới khi chúng đã lành lặn.

(Dogs are wise. They crawl away into a quiet corner and lick their wounds and do not rejoin the world until they are whole once more.)

Nhưng bà có tin vào tình yêu…

Bất kì người đàn bà nào cũng có thể lừa một người đàn ông nếu họ muốn và nếu anh ta yêu họ.

(Any woman can fool a man if she wants to and if he’s in love with her.)

Đây đúng là một ý nghĩ lạ lùng, nhưng chỉ khi bạn thấy người ta trông tức cười thế nào, bạn mới nhận ra mình yêu họ bao nhiêu.

(It is a curious thought, but it is only when you see people looking ridiculous that you realize just how much you love them.)

Cuộc hôn nhân thứ hai của bà với Max Mallowan là một cuộc hôn nhân đầy mỹ mãn cho đến khi bà lìa đời vào năm 1976.
Tôi đã kết hôn với môn nhà khảo cổ học bởi khi tôi mỗi lúc một già đi, anh ấy sẽ càng quý trọng tôi. 

(I married an archaeologist because the older I grow, the more he appreciates me.)

Người chồng lí tưởng nhất mà một người phụ nữ có thể có là một nhà khảo cổ học. Khi cô ta mỗi lúc một già đi, người chồng sẽ càng thêm hứng thú với họ.

(An archaeologist is the best husband a woman can have. The older she gets the more interested he is in her.)

Tuy nhiên, Rosalind Margaret Hicks là người con duy nhất mà Christie có với người chồng đầu tiên của bà.

Tình thương của một người mẹ dành cho con không giống bất kì thứ gì trên thế giới này. Nó chẳng biết sợ, chẳng biết hối tiếc, nó thách thức và nghiền nát không thương tiếc bất kì thứ gì cản đường nó.

(A mother’s love for her child is like nothing else in the world. It knows no awe, no pity, it dares all things and crushes down remorselessly all that stands in its path.)

Tôi nghĩ rằng, trên thế giới này không có gì ly kì hơn việc có một đứa con của mình, nhưng thật bí ẩn sao khi đứa trẻ ấy cũng là một người lạ.

(There is nothing more thrilling in this world, I think, than having a child that is yours, and yet is mysteriously a stranger.)

Christie dường như yêu trọn vẹn cuộc sống của mình. Bà già đi theo thời gian nhưng vẫn giữ được nét đẹp duyên dáng của mình.

Tôi yêu cuộc sống. Đôi khi tôi đau khổ dữ dội, tuyệt vọng, sâu sắc, bị nỗi muộn phiền giày vò, nhưng sau tất cả tôi vẫn biết khá chắc chắn rằng được sống là một điều lớn lao. – Một tự truyện (1977)

(I like living. I have sometimes been wildly, despairingly, acutely miserable, racked with sorrow, but through it all I still know quite certainly that just to be alive is a grand thing. ―An Autobiography (1977).)

Tôi đã tận hưởng hết mình mùa xuân thứ hai đến khi bạn kết thúc cuộc sống tình cảm và các mối quan hệ cá nhân; và đột nhiên phát hiện rằng, ở độ tuổi 50, chẳng hạn, một cuộc đời hoàn toàn mới mở ra trước mắt bạn, lắp đầy những thứ mà bạn có thể nghĩ, học hay đọc về nó…  Như thể một luồng ý tưởng và suy nghĩ mới nảy nở bên trong mình vậy.

(I have enjoyed greatly the second blooming that comes when you finish the life of the emotions and of personal relations; and suddenly find – at the age of fifty, say – that a whole new life has opened before you, filled with things you can think about, study, or read about…It is as if a fresh sap of ideas and thoughts was rising in you.)

Nhưng tuổi già đến cùng với sức khỏe yếu và bệnh đãng trí…

Giờ đây tôi đang sống bằng thời gian vay mượn, đợi chờ một ngày được gọi về với cát bụi. Và khi ấy, tôi sẽ bước tiếp, dù con đường phía trước là gì. Người ta may mắn chẳng phải bận tâm về điều đó. – Một tự truyện (1977).

(I live now on borrowed time, waiting in the anteroom for the summons that will inevitably come. And then – I go on to the next thing, whatever it is. One doesn’t luckily have to bother about that. ―An Autobiography (1977).)

Nhưng cả cuộc đời của mình, Agatha Christie đã có những thứ rất thú vị để nói về chuyên môn của mình – tội ác và tội phạm.

Ác độc không phải là một thứ siêu nhân, mà nó là một thứ ít đi phần người.

(Evil is not something superhuman, it’s something less than human.)

Người ta hay quy mọi tội ác mà con người có ý chí tự do gây ra là do ý muốn của Chúa.

(There’s too much tendency to attribute to God the evils that man does of his own free will.)

Khoan dung quá… thường gây ra thêm tội ác về sau khiến những nạn nhân vô tội phải mất mạng, những người đáng ra chẳng phải là nạn nhân nếu công lý được đặt lên hàng đầu và lòng khoan dung ở thứ hai.

(Too much mercy… often resulted in further crimes which were fatal to innocent victims who need not have been victims if justice had been put first and mercy second.)

Tội ác bộc lộ rất đỗi rõ ràng. Hãy thử và thay đổi các phương thức mà bạn thường làm, khẩu vị, thói quen, quan điểm cách nhìn, và bản chất của bạn sẽ được bộc lộ qua hành động.

(Crime is terribly revealing. Try and vary your methods as you will, your tastes, your habits, your attitude of mind, and your soul is revealed by your actions.)

Về các phương pháp viết văn của bà, bà đã làm rõ một vài ý sau:

Thể loại:

Tôi chuyên viết về những kẻ sát nhân thầm lặng trong gia đình.

(I specialize in murders of quiet, domestic interest.)

Vấn đề của nhà văn:

Ôi trời, tôi chưa bao giờ nhận ra rằng mình phải giải thích nhiều như thế nào về cách hành động của nhân vật trong vụ án mạng .

(Oh dear, I never realized what a terrible lot of explaining one has to do in a murder!)

Thời điểm:

Thời điểm tốt nhất để lên ý tưởng một quyển sách là khi bạn đang rửa bát.

(The best time to plan a book is while you’re doing the dishes.)

Ấn ký:

Tôi chẳng biết gì về súng lục và súng lục ổ quay, đó là lí do tại sao tôi thường giết nhân vật của mình bằng hung khí cùn hay nhất là bằng độc dược. Vả lại, độc dược giết người gọn gàng, sạch sẽ và thú vị hơn… Tôi không nghĩ mình có thể nhìn trực diện một thi thể nhợt nhạt, bị tàn phá nặng nề. Đó là phương thức mà tôi hứng thú. Tôi tường không mô tả kết cục của người chết.

(I know nothing about pistols and revolvers, which is why I usually kill off my characters with a blunt instrument or better with poisons. Besides, poisons are neat and clean and really exciting… I do not think I could look a really ghastly mangled body in the face. It is the means that I am interested in. I do not usually describe the end, which is often a corpse.)

Mặt thối nát của nhân vật:

Không có gì nguy hiểm hơn việc trò chuyện đối với một kẻ đang giấu giếm bí mật! Một con người nóng nảy không thể kiềm nén được cơ hội bộc lộ bản thân và thể hiện cá tính của hắn khi nói. Mỗi một lần như vậy, hắn đã vô thức tố cáo chính mình. 

(There is nothing so dangerous for anyone who has something to hide as conversation! A human being, Hastings, cannot resist the opportunity to reveal himself and express his personality which conversation gives him. Every time he will give himself away.)

Nguyên tắc:

Tôi luôn cho rằng viết văn đừng nên có thêm người cộng tác, bởi khi hai người cùng viết chung một quyển sách, mỗi người sẽ tin rằng mình phải nhận hết tất cả lo lắng và chỉ một nửa tín nhiệm.

(I’ve always believed in writing without a collaborator, because where two people are writing the same book, each believes he gets all the worry and only half the royalties.)

Thật tức cười khi đặt bối cảnh một truyện trinh thám ở thành phố New York. Bản thân thành phố New York đã là một câu chuyện trinh thám rồi.

(It is ridiculous to set a detective story in New York City. New York City is itself a detective story.)

Các tác phẩm của bà đều phản ánh bản thân bà và là một phần thực tại của bà. Hãy quan sát những câu trích dẫn dưới đây và bạn sẽ thấy được nét tương đồng giữa đời thực và cuộc sống dưới ngòi bút của bà. Bà là một người nhạy cảm, nhưng óc phán đoán sắc bén được thể hiện qua cách bà mô tả tâm lý của nhân vật. Và chỉ một người như thế mới có thể viết ra được một câu văn thế này,

Mỗi kẻ sát nhân đều có thể là người bạn cũ của một ai đó, Poirot bình thản quan sát. Anh không thể trộn lẫn lý trí và tình cảm,  – Thảm kịch ở Styles.

(Every murderer is probably somebody’s old friend, observed Poirot philosophically. You cannot mix up sentiment and reason, ―The Mysterious Affair at Styles.)

Nguồn: https://penlighten.com/agatha-christie-quotes

 

Advertisements

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.